Kết quả phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn giai đoạn 2021-2025 và định hướng giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
I. TỔNG QUAN CHUNG
Sau khi sáp nhập, tỉnh Quảng Ngãi mới (từ ngày 1/7/2025) có diện mạo mới với diện tích 14.832,55 km², là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 cả nước; có 96 đơn vị hành chính cấp xã (86 xã, 9 phường và 01 đặc khu Lý Sơn); sở hữu cả vùng duyên hải và cao nguyên. Tỉnh có địa hình đa dạng từ biển lên núi cao, trở thành cầu nối chiến lược giữa miền Trung và Tây Nguyên, đồng thời mở ra tiềm năng phát triển kinh tế đa dạng, đặc biệt là công nghiệp, nông nghiệp và du lịch. Quảng Ngãi không còn là một địa danh đơn lẻ, mà là một không gian phát triển liên hoàn, sở hữu Biển - Núi - Biên giới.
Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới là hai chương trình trọng tâm về phát triển kinh tế nông thôn thuộc Chương trình MQTG xây dựng nông thôn mới. Sau hơn 06 năm triển khai Chương trình OCOP và hơn 03 năm triển khai Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, Sở Nông nghiệp và Môi trường Báo cáo tóm tắt kết quả phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn giai đoạn 2021-2025 và định hướng giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2021-2025
1. Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện
Phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn là những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong phát triển kinh tế, chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông thôn. Mục tiêu là đẩy mạnh phát triển OCOP và du lịch nông thôn gắn với phát huy tiềm năng, lợi thế về nông nghiệp, làng nghề, văn hóa và môi trường sinh thái của các địa phương, nhằm nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích hợp đa giá trị, bao trùm và phát triển bền vững. Do đó, trong thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban ngành, địa phương đã tập trung tổ chức triển khai thực hiện, cụ thể:
- Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp với các sở, ngành địa phương chủ động tổ chức Hội nghị triển khai ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình; Ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình OCOP, du lịch nông thôn giai đoạn 2021-2025 và từng năm; Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các chương trình, nhằm định hướng các mục tiêu, giải pháp trọng tâm để các địa phương thực hiện. Thường xuyên hướng dẫn, hỗ trợ và triển khai các đợt tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực, xúc tiến quảng bá, giới thiệu, kết nối các sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn, bước đầu hình thành bộ máy tổ chức triển khai đồng bộ, gắn với chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị.
- Nhìn chung, giai đoạn 2021-2025, Chương trình OCOP và Chương trình phát triển du lịch nông thôn được triển khai đồng bộ, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Các Sở, ngành địa phương đã phối hợp chặt chẽ, hướng dẫn địa phương gắn phát triển OCOP với du lịch nông thôn, hình thành chuỗi giá trị và nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng quảng bá, xúc tiến thương mại, phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn gắn với lợi thế. Chương trình đã khẳng định vai trò là giải pháp trọng tâm thúc đẩy kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân, bảo tồn văn hóa và cảnh quan sinh thái bền vững.
2. Kết quả thực hiện Chương trình OCOP
a) Về số lượng sản phẩm, chủ thể OCOP
Sau khi sáp nhập với tỉnh Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi đã có một diện mạo mới, với 96 đơn vị hành chính cấp xã. Vị thế chiến lược “hai đầu” núi và biển mang lại nguồn tài nguyên đa dạng, từ Tỏi Lý Sơn nổi tiếng cho đến Sâm Ngọc Linh quý giá, với kết quả chi tiết cụ thể như sau:
- Về sản phẩm OCOP: Toàn tỉnh Quảng Ngãi có: 643 sản phẩm OCOP còn thời hạn. Trong số các sản phẩm OCOP còn thời hạn có: 02 sản phẩm đạt OCOP 5 sao; 55 sản phẩm đạt 4 sao và 586 sản phẩm đạt 3 sao;
- Về chủ thể: Có 320 chủ thể có sản phẩm đạt OCOP gồm 52 Doanh nghiệp (199 sản phẩm); 107 Hợp tác xã (200 sản phẩm); 158 cơ sở/hộ kinh doanh (241 sản phẩm); 03 Tổ hợp tác (3 sản phẩm);
- Về phân nhóm sản phẩm: Nhóm thực phẩm: 468 sản phẩm; Nhóm đồ uống: 130 sản phẩm; Nhóm dược liệu và sản phẩm từ dược liệu: 30 sản phẩm; Nhóm hàng thủ công mỹ nghệ: 11 sản phẩm; Nhóm sinh vật cảnh: 02 sản phẩm; Dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch: 02 sản phẩm;
- Về Điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP: Có 33 điểm, trong đó, Nhà nước hỗ trợ 12 điểm; xã hội hóa 100% có 21 điểm).
b) Tác động của Chương trình OCOP đến phát triển kinh tế nông thôn
Sau hơn 06 năm triển khai thực hiện, có thể nhận thấy, Chương trình OCOP đã có những tác động tích cực, đậm nét đến phát triển kinh tế nông thôn, cụ thể là:
- Chương trình OCOP đã tác động tích cực, mạnh mẽ đến phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn, góp phần chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, xây dựng vùng nguyên liệu địa phương ổn định.
- Sản phẩm OCOP đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm; có mẫu mã, bao bì đa dạng và thân thiện với môi trường, phù hợp yêu cầu của thị trường. Góp phần gia tăng giá trị, giúp các chủ thể tăng quy mô sản xuất và doanh thu (Theo báo cáo các chủ thể giá bán các sản phẩm sau khi được chính thức công nhận OCOP tăng bình quân 15-20%).
- Nhận thức, tư duy và năng lực của chủ thể OCOP, đặc biệt là các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nâng cao về tổ chức sản xuất, quản trị chất lượng; đầu tư về cơ sở hạ tầng và các tiêu chuẩn chứng nhận; sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu được quan tâm; tư duy và tiếp cận về thị trường thay đổi theo hướng tích cực theo yêu cầu của thị trường.
- Chương trình đã giúp các chủ thể chủ động trong phát triển thị trường, mở rộng kênh phân phối, đặc biệt là khả năng tham gia vào các kênh phân phối hiện đại, thị trường xuất khẩu.
- Chương trình OCOP đã thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, phát triển thêm các ngành nghề, dịch vụ thương mại ở nông thôn và nhiều thanh niên, đồng bào dân tộc thiểu số tham gia Chương trình OCOP và có sản phẩm đạt OCOP
Có thể nói, Chương trình OCOP đã và đang tạo ra những chuyển biến tích cực, đồng bộ trong sản xuất, góp phần phát triển kinh tế khu vực nông thôn. Các sản phẩm OCOP đã được cải thiện đáng kể về chất lượng, bao bì, nhãn mác và bộ nhận diện thương hiệu. Thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng, không chỉ gói gọn trong địa phương mà đã vươn đến nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.
3. Kết quả phát triển du lịch nông thôn
Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới đã tạo bước chuyển mạnh mẽ trong nhận thức và tư duy phát triển kinh tế nông thôn. Chương trình đã góp phần quan trọng trong chuyển đổi tư duy của chính quyền, người dân và doanh nghiệp từ “làm nông” sang “làm du lịch”, từ sản xuất đơn giá trị sang phát triển kinh tế nông thôn tích hợp đa giá trị (nông nghiệp - văn hóa - sinh thái - dịch vụ). Qua đó, du lịch nông thôn không chỉ là một ngành kinh tế bổ trợ, mà đang dần trở thành một mũi nhọn phát triển bền vững ở nhiều vùng nông thôn.
- Trước khi sát nhập tỉnh, Kon Tum đã có tổng số trên 32 làng văn hóa, điểm du lịch cộng đồng đã và đang được đầu tư xây dựng; trong đó, 15 điểm đã được UBND tỉnh công nhận là Điểm du lịch; có 03 sản phẩm OCOP 3 sao (1) Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon K’tu (xã Đăk Rơ Wa); (2) Điểm du lịch A Biu (xã Ngọk Bay) và (3) Du lịch trải nghiệm Vườn Quốc gia Chư Mom Ray huyện Sa Thầy cũ (đã hết hạn OCOP, chưa đánh giá lại); Có 03 Hội quán: (1) Hội quán cùng nhau làm du lịch và nông nghiệp xã Đăk Rơ Wa, Tp.Kon Tum, (2) Hội quán Đăk Hà ngày mùa, 01 Hội quán Du lịch và Nông nghiệp xã Đăk Tăng) (3) 01 Hợp tác xã Nông nghiệp du lịch dịch vụ Ngọc Réo
- Tỉnh Quảng Ngãi cũ có 04 sản phẩm du lịch được công nhận OCOP cụ thể: 02 sản phẩm còn hạn OCOP 3 sao gồm: Dịch vụ du lịch công đồng Rừng dừa nước Tịnh Khê, Dịch vụ du lịch cộng đồng Thắng Lợi (công nhận năm 2025); 02 sản phẩm hết hạn OCOP gồm: Dịch vụ du lịch cộng đồng làng Gò cỏ đạt OCOP 3 sao (năm 2020), điểm Thành Cổ Quảng Ngãi đạt 4 sao năm 2022.
Như vậy: Luỹ kế sau sáp nhập, tỉnh Quảng Ngãi có 16 điểm du lịch được UBND tỉnh công nhận theo Luật Du lịch do cộng đồng quản lý, cụ thể: tỉnh Kon Tum (cũ) có 15 điểm và tỉnh Quảng Ngãi (cũ) có 01 điểm; có 02 sản phẩm còn hạn OCOP 3 sao gồm: Dịch vụ du lịch công đồng Rừng dừa nước Tịnh Khê, Dịch vụ du lịch cộng đồng Thắng Lợi (công nhận năm 2025).
- Ngoài các sản phẩm điểm du lịch nông thôn nói trên thì đến nay nhu cầu về du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng ở Quảng Ngãi phát triển đáng kể được nhiều du khách trong và ngoài tỉnh biết đến, tham gia trải nghiệm như: Du lịch cộng đồng làng Bình Thành (xã Phước Giang); du lịch cộng đồng Rừng dừa Cà Ninh; Du lịch cộng đồng Bàu Cá Cái (xã Vạn Tường); Du lịch cộng đồng Làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh); Du lịch cộng đồng, trải nghiệm tại xã Mộ Đức (xã Đức Tân cũ), xã Long Phụng (xã Đức Lợi cũ); Du lịch cộng đồng tại thảo nguyên Bùi Hui, … Mô hình phát triển du lịch Làng hoa xã An Phú (xã Nghĩa Hà cũ); mô hình du lịch sinh thái kết hợp tham quan vườn rau an toàn xã An Phú; mô hình du lịch cộng đồng bãi biển Nghĩa An (nay là xã An Phú) và mô hình du lịch cộng đồng gắn với tham quan các khu di tích lịch sử. Lý Sơn triển khai mô hình “Một ngày làm nông dân đất đảo - Kỳ bí đảo núi lửa Lý Sơn”, phát triển du lịch cộng đồng theo mô hình homestay, …Những mô hình du lịch này không chỉ làm thay đổi bộ mặt của nông thôn mà còn tạo ra rất nhiều giá trị; góp phần bảo tồn và phát huy những nét văn hóa độc đáo của địa phương; tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân, đưa kinh tế phát triển theo hướng bền vững.
Như vậy, đến nay có thể khẳng định, Chương trình OCOP và Chương trình phát triển du lịch nông thôn là định hướng rất phù hợp để phát huy thế mạnh, lợi thế về điều kiện tự nhiên, văn hóa của các địa phương,... trong phát triển kinh tế nông thôn, gắn liền với xây dựng nông thôn mới, được các địa phương chủ động triển khai một cách hiệu quả và thành công.
4. Tồn tại, hạn chế trong phát triển OCOP và du lịch nông thôn
a) Về phát triển sản phẩm OCOP
- Năng lực chủ thể OCOP còn hạn chế, đặc biệt là về nguồn vốn, năng lực quản trị, marketing và phát triển thị trường. Quy mô sản xuất còn nhỏ, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc thích ứng với yêu cầu của thị trường, mở rộng quy mô, nâng cao sức cạnh tranh, đặc biệt là khả năng liên kết với doanh nghiệp phân phối, tham gia vào các kênh phân phối hiện đại.
- Chất lượng sản phẩm OCOP còn thiếu sự đồng đều, ổn định; nhiều sản phẩm OCOP còn chưa đặc sắc, thiếu liên kết sản xuất gắn với vùng nguyên liệu ổn định, đạt chuẩn; chưa khai thác hết giá trị văn hóa, tri thức bản địa gắn với câu chuyện sản phẩm. Hoạt động đổi mới, sáng tạo trong phát triển sản phẩm tuy có kết quả, nhưng vẫn còn hạn chế so với tiềm năng.
- Mặc dù bao bì, nhãn mác sản phẩm OCOP có sự cải thiện rõ rệt, tuy nhiên công tác xây dựng thương hiệu, sở hữu trí tuệ còn hạn chế, đặc biệt là việc hình thành các thương hiệu OCOP chất lượng, uy tín đối với người tiêu dùng.
- Công tác xúc tiến thương mại mặc dù được triển khai đồng bộ, thường xuyên với nhiều giải pháp, tuy nhiên chưa đi vào chiều sâu, gắn với quảng bá, giới thiệu các giá trị văn hóa, lễ hội của địa phương; khai thác các lợi thế về du lịch trong tiêu thụ sản phẩm OCOP.
Nguyên nhân:
- Một số địa phương chưa có sự quan tâm, vào cuộc của hệ thống chính trị, một số nơi còn chạy theo thành tích, mới chỉ tập trung vào công tác đánh giá, phân hạng, chưa quan tâm công tác nâng cao năng lực chủ thể, phát triển sản phẩm OCOP gắn với vùng nguyên liệu địa phương, các giá trị văn hóa, tri thức bản địa.
- Nhiều nơi, sự tham gia của các chủ thể vào Chương trình OCOP chưa thực sự chủ động, mà còn phụ thuộc nhiều vào các đơn vị tư vấn (thậm chí có chủ thể khoán trắng cho đơn vị tư vấn lập hồ sơ để đề nghị đánh giá, phân hạng sản phẩm). Chính vì vậy, một số nội dung triển khai chu trình OCOP của nhiều chủ thể còn mang nặng tính hình thức, thiếu sự gắn kết với hoạt động nâng cao năng lực của chủ thể về sản xuất, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.
- Các đơn vị tư vấn, hỗ trợ trong phát triển sản phẩm còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của các sản phẩm OCOP.
- Các cơ chế, chính sách hỗ trợ chủ thể phát triển sản phẩm thiếu đồng bộ, chưa được cụ thể hóa, chưa chú trọng đến phát triển chuỗi giá trị, vùng nguyên liệu và cơ sở - quy trình chế biến,... dẫn đến những khó khăn trong quá trình triển khai ở một số địa phương.
b) Về phát triển du lịch nông thôn
- Công tác quy hoạch du lịch nông nghiệp, nông thôn còn thiếu trọng tâm, chưa phù hợp với tiềm năng lợi thế, đặc trưng của nhiều địa phương.
- Một số mô hình du lịch nông thôn còn tự phát, manh mún, quy mô nhỏ và trùng lặp, chưa khai thác được thế mạnh về điều kiện tự nhiên, văn hóa và tài nguyên nông nghiệp của địa phương.
- Chất lượng sản phẩm và dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu bản sắc, ít đổi mới sáng tạo, chưa gắn với đặc thù và sản phẩm đặc sản của từng địa phương, còn mang tính tự phát và mùa vụ.
- Hoạt động du lịch còn thiếu sự chủ động, khả năng kết nối, liên kết điểm, tuyến du lịch còn hạn chế, đặc biệt là sự kết nối liên tỉnh, liên vùng,…
Nguyên nhân
- Chương trình phát triển du lịch nông thôn là một chương trình mới, lần đầu được triển khai đồng bộ, bài bản từ trung ương đến địa phương gắn với xây dựng nông thôn mới. Do đó, nhiều địa phương gặp khó khăn về tiếp cận, thực hiện các giải pháp, các bước tổ chức xây dựng các mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt là công tác quy hoạch, phát triển du lịch nông thôn; xác định lợi thế, tiềm năng để phát triển sản phẩm du lịch đặc sắc; công tác quảng bá, kết nối du lịch còn manh mún, thiếu đồng bộ;
- Thiếu cán bộ chuyên môn về du lịch nông thôn ở cấp tỉnh, huyện (cũ), xã; lao động du lịch chủ yếu là lao động tại chỗ, do đó chất lượng nguồn nhận lực còn hạn chế, đặc biệt là các kỹ năng để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM OCOP VÀ DU LỊCH NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2026-2030
1. Đối với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)
a) Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026-2030
Phấn đấu đến năm 2030 có thêm 500 sản phẩm đạt OCOP 3 sao trở lên, trong đó: có ít nhất 5-7 sản phẩm tham gia đánh giá phân hạng sản phẩm OCOP 5 sao cấp Trung ương, 50 sản phẩm 4 sao, còn lại là sản phẩm 3 sao. Tập trung triển khai các cơ chế, chính sách, giải pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường bền vững theo chuỗi giá trị sản phẩm; ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế nhằm phát huy được tiềm năng, lợi thế của tỉnh, khơi dậy tính sáng tạo của cộng đồng trong phát triển sản phẩm OCOP gắn với xây dựng nông thôn mới. Các sản phẩm OCOP không ngừng được cải tiến, hoàn thiện sản phẩm theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bao bì, nhãn mác gắn với truy xuất nguồn gốc, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm; tăng cường áp dụng công nghệ số trong quản lý thương mại sản phẩm để từng bước đẩy mạnh thương hiệu sản phẩm OCOP Quảng Ngãi trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Chú trọng phát triển các sản phẩm đặc sản nổi tiếng gắn với chỉ dẫn địa lý của tỉnh như: Sâm Ngọc Linh, tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng, cà phê Đăk Hà; gắn với nhãn hiệu chứng nhận như cà phê xứ lạnh Măng Đen, các sản phẩm chế biến từ sâm dây, đẳng sâm, sim rừng, mật ong; các sản phẩm gắn lợi thế vùng như trái cây Nghĩa Hành, gạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn hữu cơ, VietGAP, thịt trâu, bò khô; các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao như: bơ, sầu riêng, bưởi da xanh,…; các sản phẩm ngành nghề nông thôn gắn với bảo tồn giá trị văn hoá như phát triển ngành nghề nước mắm truyền thống, dệt thổ cẩm, thủ công mỹ nghệ, gốm sứ,… Tăng cường tuyên truyền để người dân, các nhà sản xuất, kinh doanh ý thức được vai trò của việc bảo vệ tài sản trí tuệ cho sản phẩm của mình. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh cần tạo lập nhãn hiệu riêng cho sản phẩm. Xây dựng chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc sản của tỉnh, tổ chức sản xuất gắn với đặc trưng về tiêu dùng và thị trường của sản phẩm. Xác định hướng đi phù hợp trên cơ sở thúc đẩy kênh tiêu dùng chất lượng cao, gắn với du lịch và thị trường tại chỗ, nhằm phát huy được yếu tố “đặc sản” của sản phẩm tại địa phương.
b) Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong phát triển sản phẩm OCOP
Tiếp tục phát triển sản phẩm OCOP theo hướng đi vào chiều sâu, chất lượng, đặc trưng, đa giá trị, thân thiện với môi trường, gắn với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong chế biến, khai thác tiềm năng, lợi thế và giá trị văn hóa địa phương, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, cụ thể:
- Phát triển sản phẩm OCOP gắn với lợi thế, thế mạnh của địa phương, đặc biệt là gắn với nguyên liệu địa phương, văn hóa và tri thức bản địa. Trong đó, tập trung xây dựng vùng nguyên liệu địa phương ổn định theo quy hoạch, đạt chuẩn; chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ phát triển sản phẩm chế biến, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu địa phương, văn hóa và tri thức bản địa, khai thác các giá trị riêng có của sản phẩm để tạo sự khác biệt về sức cạnh tranh trên thị trường.
- Tăng cường nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng chuyển từ “Số lượng” sang “Chất lượng và giá trị” trong đó tập trung tái cấu trúc và nâng hạng sản phẩm, tập trung nguồn lực phát triển các sản phẩm chủ lực (Sâm Ngọc Linh, Tỏi Lý Sơn, cà phê, dược liệu...); Ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, gắn kết chặt chẽ với du lịch, biến các điểm du lịch thành “phòng trưng bày sống” cho sản phẩm OCOP, phát triển các sản phẩm đặc thù phục vụ du khách.
- Xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm OCOP có uy tín trong nước và xuất khẩu, tập trung nâng cao năng lực quản trị, đăng ký sở hữu trí tuệ cho sản phẩm OCOP, nâng cao hình ảnh, giá trị và uy tin của sản phẩm OCOP gắn với thị trường trong nước và quốc tế.
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm OCOP gắn với thị trường trong nước và quốc tế, trong đó: (1) Quảng bá, thương mại sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch, các lễ hội văn hóa truyền thống và tổ chức các sự kiện tạo không gian mở để quảng bá sản phẩm OCOP; (2) Đa dạng hóa các hình thức thương mại, đặc biệt là năng lực tham gia vào các kênh bán hàng hiện đại, thương mại điện tử gắn với các yếu tố về văn hóa, cộng đồng gắn với đặc trưng của sản phẩm OCOP; (3) Từng bước đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP ra thị trường quốc tế;
- Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm OCOP và an toàn thực phẩm: (1) Nâng cao hiệu quả công tác đánh giá, phân hạng ở cấp địa phương theo Bộ tiêu chí OCOP được Thủ tướng Chính phủ ban hành; (2) Tăng cường công tác quản lý, thường xuyên kiểm tra, giám sát sản phẩm, chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn sản phẩm OCOP đối với các sản phẩm đã được đánh giá, phân hạng.
2. Đối với Chương trình phát triển du lịch nông thôn
a) Mục tiêu
- Hỗ trợ các địa phương đánh giá lại các sản phẩm dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch đã được công nhận OCOP 3 sao chưa được công nhận lại: (1) Điểm du lịch A Biu, xã Ngọk Bay, (2) Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon K’tu xã Đăk Rơ Wa (3) Du lịch trải nghiệm Vườn Quốc gia Chư Mom Ray.
- Phấn đấu có thêm 03 điểm du lịch được công nhận OCOP 3 sao trở lên.
- Hình thành và phát triển các tour du lịch như: Khám phá Măng Đen - Kỳ bí Tây Nguyên; Trải nghiệm Lý Sơn - Hành trình di sản; Về nguồn Sa Huỳnh - Giao lưu văn hóa; Du lịch cộng đồng Kon K''tu - A Biu; Sinh thái Rừng dừa nước Tịnh Khê;...
b) Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong phát triển du lịch nông thôn
Đẩy mạnh phát triển du lịch nông thôn gắn với các giá trị độc đáo, tiềm năng, lợi thế về tài nguyên nông nghiệp, làng nghề, văn hóa và môi trường sinh thái của các địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích hợp đa giá trị, bao trùm và bền vững.
- Phát triển các mô hình, điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn theo quy hoạch, gắn với tiềm năng, lợi thế của địa phương.
- Phát triển các mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn đặc sắc, chất lượng với các sản phẩm du lịch nông nghiệp, nông thôn mang đặc trưng vùng, miền, khai thác lợi thế nổi bật của khu vực nông thôn về sản phẩm OCOP, tiềm năng nông nghiệp, cảnh quan sinh thái, văn hóa truyền thống; phát triển hệ thống sản phẩm du lịch dựa trên khai thác liên kết chuỗi giá trị du lịch và nông nghiệp, đa dạng tính trải nghiệm, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu khách du lịch.
- Xây dựng các tour, tuyến xuyên địa hình: Tập trung phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo, kết nối núi - biển - biên giới, như “Hành trình Sâm Ngọc Linh - Biển Lý Sơn” hay “Khám phá Măng Đen - Nghỉ dưỡng Sa Huỳnh”,...
- Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch nông thôn: Tăng cường tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, nghiệp vụ cho các chủ thể, lao động du lịch nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là du lịch cộng đồng nhằm khai thác tối đa tiềm năng và tài nguyên du lịch của từng địa phương. Từng bước hình thành mạng lưới và nâng cao năng lực cho đội ngũ tư vấn về phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn.
- Tăng cường hoạt động quảng bá, giới thiệu và kết nối du lịch nông thôn: Đẩy mạnh tổ chức các sự kiện, lễ hội, diễn đàn, hoạt động quảng bá, xúc tiến, giới thiệu điểm đến và sản phẩm du lịch nông nghiệp, nông thôn; lồng ghép, phối hợp tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại gắn với sản phẩm OCOP; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn.
IV. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
1. Đề xuất, kiến nghị Bộ, ngành, Trung ương
- Trung ương sớm phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 – 2035; Quyết định phê duyệt Chương trình Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2026-2030; Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá phân hạng sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2026-2030 để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện.
- Bộ Tài chính ban hành quy định quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2030 để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện.
2. Đề xuất, kiến nghị các địa phương (xã, phường, đặc khu)
Sau khi có hương dẫn của Trung ương, của tỉnh: căn cứ theo điều kiện, lợi thế của địa phương, khẩn trưởng xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển sản phẩm OCOP, phát triển du lịch nông thôn trong giai đoạn 2026-2030, trong đó tập trung:
- Cần tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm gắn với phát triển thương hiệu sản phẩm OCOP có uy tín trong nước và xuất khẩu, theo hướng thân thiện môi trường, phát triển xanh và bền vững; quan tâm xây dựng các vùng nguyên liệu theo quy hoạch và đạt chuẩn; phát triển sản sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch, các lễ hội văn hóa truyền thống; đẩy mạnh xúc tiến thương mại và tổ chức các sự kiện tạo không gian mở để quảng bá sản phẩm OCOP.
- Chú trọng phát triển du lịch nông thôn gắn với quy hoạch, lợi thế, đặc sắc của từng địa phương; tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng các tour tuyến kết nối du lịch; xây dựng cơ chế, chính sách, tháo gỡ rào cản cho người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là tháo gỡ các rào cản về quy hoạch, sử dụng đất trong phát triển du lịch nông thôn.
Quốc Duẩn - Chi cục PTNT